Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác giả kinh điển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác giả kinh điển. Hiển thị tất cả bài đăng

16 tháng 6, 2012

ĐIỂM SÁCH 11: BỘ QUY TẮC NGHIÊN CỨU SỰ KIỆN XÃ HỘI CỦA ÉMILE DURKHEIM



ĐINH HNG PHÚC
(Khoa Lý lun Chính tr,
trường Đi hc Th Du Mt)

     Nhà triết hc và xã hi hc người Pháp Émille Durkheim (1858-1917) được mc nhiên tha nhn là “người cha sáng lp” ca ngành xã hi hc. S nghip ca ông, nói theo Gaston Bouthol, là “mt c gng to ln v mt hc thuyết giúp cho xã hi hc cùng lúc thoát khi thn hc ln triết hc và chính tr”, trang b cho nó đi tượng riêng và nhng phương pháp đúng là khoa hc.[1] Cái “bí kíp” to dng nên s nghip này đã được Durkheim “tiết l” trong công trình Các quy tc ca phương pháp xã hi hc (1895)[2] ca ông.

15 tháng 5, 2012

Chiến tranh và hòa bình trên không gian ảo và hòa bình

Joseph S. Nye - Phạm Nguyên Trường dịch

      Hai năm trước một đoạn mã máy tính sai đã thâm nhập vào chương trình hạt nhân của Iran và phá hủy nhiều máy li tâm chuyên dùng cho việc làm giàu uranium. Một số nhà quan sát tuyên bố rằng vụ phá hoại hiển nhiên này là điềm báo của một hình thức chiến tranh mới và ông Leon Panetta, Bộ trưởng quốc phòng Mĩ, đã cảnh báo về nguy cơ của một cuộc tấn công “Chân Trâu cảng trên không gian ảo” vào nước Mĩ. Nhưng chúng ta biết gì về cuộc xung đột trên không gian ảo?

14 tháng 5, 2012

GIỚI THIỆU SÁCH 11: Các quy tắc của phương pháp xã hội học

Đây là bản dịch tiếng Việt  thứ hai của cuốn sách, sau bản dịch của Nguyễn Gia Lộc, Nxb, Giáo dục, 1995.

24 tháng 3, 2012

Một vài đóng góp của Các Mác đối với sự ra đời và phát triển của xã hội học

 
Nguyễn Thanh Bình - Khoa Giáo dục Chính trị - ĐHSPHN

Mác, Comte, Durkheim, Weber, Spencer được coi là những người sáng lập ra ngành xã hội học. Cống hiến to lớn của Mác đối với sự phát triển xã hội học là lý luận về tha hóa; lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp xã hội; lý luận về hình thái kinh tế xã hội.

9 tháng 12, 2011

Nghịch lý của văn hoá

Bùi Văn Nam Sơn

SGTT.VN - Khi được tái kết hợp với mô hình phê phán của Rousseau về sự tha hoá, triết học đời sống sẽ mang lại một tâm thức mới, đặc trưng cho cả một thời đại từ giữa thế kỷ 19 đến tận ngày nay: tâm thức bi tráng (Văn hoá và đời sống? Sài Gòn Tiếp Thị 23.11). Nếu mọi hình thức văn hoá (ý thức, tinh thần, khoa học, kinh tế, chính trị…) đều là những hiện thân khách quan của đời sống, thì con người thời đại đối diện với sự thật: tất cả chúng đều trở nên xa lạ với đời sống và, thậm chí, là những lực lượng đối lập lại đời sống.

5 tháng 9, 2011

GIAO LƯU TRỰC TUYẾN VỚI HỌC GIẢ EMILE DURKHEIM

Lấy cảm hứng từ: “Giao lưu trực tuyến” với Hobbes, Locke và Rousseau.

Xin trân trọng chào mừng các quý vị đã đến khu vườn xã hội học http://www.ngohuan.blogspot.com/ ! Nhằm tạo ra sự tương tác nhiều hơn nữa để thông qua đó hiểu rõ hơn những tư tưởng của các nhà xã hội học kinh điển. Bằng nỗ lực của mình chúng tôi sẽ tổ chức những buổi Giao lưu trực tuyến với các nhà xã hội học kinh điển đến từ khắp nơi. Đây là số đầu tiên mà chúng tôi thực hiện rất mong sự đóng góp ý kiến của quý vị !
Kính thưa quý vị ! hôm nay  tại “khu vườn” http://www.ngohuan.blogspot.com/ tổ chúc buổi Giao lưu trực tuyến giữa độc giả khắp nơi với nhà xã hội học Emile Durkheim xung quanh các vấn đề xã hội học. Chúng ta sẽ nhâm nhi ly trà ngon và bàn luận về xã hội học trong một khung cảnh và  thời tiết  rất đẹp. Quý độc giả hãy đặt các câu hỏi qua địa chỉ mail huanxhhdl@gmail.com, các kỹ thuật viên sẽ thuật lại cho ông Emile Durkheim rồi học giả của chúng sẽ trả lời cho các bạn trên phần comment trực tuyến trong khu “vườn này”.

1 tháng 9, 2011

TRỞ LẠI HỌC THUYẾT ĐẠO ĐỨC CỦA DURKHEIM XEM XÉT XÃ HỘI HIỆN NAY


Ngôn Huấn
Durkheim được xem là người có công lớn nhất trong việc xác lập Xã hội học là một khoa học độc lập cả về mặt lý luận lẫn phương pháp luận. Tuy nhiên, người ta còn biết đến ông với tư cách là một nhà khoa học khả kính của giáo dục học, khoa học về tôn giáo. Trên lĩnh vực chính trị, học thuyết đạo đức xã hội của Durkheim cũng để lại những dấu ấn rất đặc sắc.

26 tháng 8, 2011

“Giao lưu trực tuyến” với Hobbes, Locke và Rousseau (kỳ cuối)


SGTT.VN - Người dẫn chương trình: Thưa cụ Rousseau, cụ đã nhiều lần tỏ ra sốt ruột, vì hình như cụ không mấy đồng tình với cụ Hobbes lẫn cụ Locke. Thế nhưng, tại sao cụ, một trong những người cha tinh thần của đại cách mạng Pháp, lại đặt tên cho tác phẩm nổi tiếng của mình là Khế ước xã hội (1762), một thuật ngữ thuộc bản quyền của hai cụ kia?

“Giao lưu trực tuyến” với Hobbes, Locke và Rousseau- kỳ 2


SGTT.VN - Người dẫn chương trình: Chúng ta vừa nghe cụ Hobbes chủ trương một nhà nước mạnh, có quyền lực vô biên để đảm bảo an ninh công cộng. Thưa cụ Locke, là tác giả của Hai khảo luận về chính quyền (1689 – 1690), cụ nghĩ gì về quan niệm ấy của cụ Hobbes?

Giao lưu trực tuyến” với Hobbes, Locke và Rousseau- Kỳ 1


SGTT.VN - Người dẫn chương trình: Mời quý vị theo dõi buổi tranh luận “trực tuyến” (tưởng tượng!) với ba vị tổ sư chung quanh câu hỏi: Nhà nước để làm gì? Dân quyền cần được thể chế hoá ra sao? Xin nhiệt liệt giới thiệu cụ Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778) người Pháp và hai cụ tiền bối người Anh là Thomas Hobbes (1588 – 1679) và John Locke (1632 – 1704).

26 tháng 7, 2011

"Vĩnh biệt Condo, bậc hiền triết của chúng ta, của Tây Nguyên" - Nhà văn Nguyên Ngọc


Georges Condominas đã ra đi trong đêm thứ bảy 16 rạng sáng chủ nhật 17-7-2011. Thế giới vừa mất một trong những nhà dân tộc học lớn nhất của mình. Chắc chắn trong những ngày đến sự kiện này sẽ gây xao động không chỉ ở Pháp, và ở Việt Nam, nơi nhà bác học này đặc biệt gắn bó. Và tôi chắc ở một nơi sâu tít trong tận cùng Tây Nguyên, tại cái làng nhỏ có tên là Sar Luk bên bờ con sông Krong Nô hoang vắng, dưới chân dãy Chư Yang Sin hùng vĩ, một dân tộc rất nhỏ tên là dân tộc Mnông Gar sẽ làm lễ bỏ mã cho ông, Yoo Condo thân thiết của họ - Yoo là cách người Mnông Gar gọi người nơi khác đến mà đã trở nên ruột thịt.

6 tháng 7, 2011

PHẬP GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ ĐẦU KỶ NGUYÊN ĐỘC LẬP TIẾP CẬN TỪ MỘT LUẬN ĐỀ CỦA MAX WEBR

Nhập đề

Nói về Phật giáo và chính trị, đặc biệt thời Lý – Trần, đáng chú ý là ý kiến của Thích Nhất Hạnh trong cuốn sách nổi tiếng Việt Nam Phật giáo sử luận (bút danh Nguyễn Lang). Ông dành hẳn một tiết Đạo Phật và chính trị, trong chương VIII, tập 1 để phân tích. Từ chỗ khẳng định: “Thiền phái Vô Ngôn Thông có Thiền sư Ngô Chân Lưu cũng đóng góp nhiều trong lĩnh vực chính trị. Danh hiệu Khuông Việt Đại sư mà vua Đinh Tiên Hoàng ban cho ông đủ nói lên tầm quan trọng của công tác ông. Khuông Việt có nghĩa là “giúp nước Việt””[1] đến việc nghiên cứu những hoạt động chính trị của các vị Thiền sư nổi tiếng khác như Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Huệ Sinh, Viên Chiếu, Mãn Giác, Không Lộ… ở thời Lý – Trần, tác giả đã rút ra nhận định rằng: “Hồi đầu lập quốc các Thiền sư đã mở những cuộc vận động gây ý thức quốc gia, đã sử dụng các môn học phong thủy và sấm vĩ trong các cuộc vận động ấy, đã trực tiếp thiết lập kế hoạch, thảo văn thư, tiếp ngoại giao đoàn, bàn luận về cả những vấn đề quân sự. Nhưng sau đó khi trong triều đình đã có đủ người lo các việc ấy thì họ chỉ giữ vai trò hướng dẫn tinh thần và cố vấn đạo đức… những Thiền sư có tham dự chính sự như Vạn Hạnh trong khi làm việc vẫn giữ thái độ xuất thế của mình, không muốn hòa mình trong vòng danh lợi, xong việc thì rút lui về chùa. Triết học hành động của Vạn Hạnh tiêu biểu cho thái độ chung của các Thiền sư: làm thì làm, nhưng không mắc kẹt vào công việc, không nương tựa và hữu vi. Đó là triết lý vô trụ”[2].
Bài viết của chúng tôi, thông qua sự vận dụng phương pháp Tiếp cận xã hội học các hiện tượng tôn giáo(L’Approche sociologique les faits religeux), của E.Durkheim (1858 – 1917) và đặc biệt của Max Weber (1864 – 1920), để làm rõ hơn khung cảnh, sắc thái, đặc điểm, những hệ luận rút ra từ mối quan hệ Phật giáo và chính trị ở nước ta đầu kỉ nguyên độc lập.

2 tháng 7, 2011

TỪ KANT ĐẾN MARX


Lời người dịch: Bài viết sau đây (đầu đề do người dịch đặt) không phải là công trình khảo cứu của một nhà nghiên cứu triết học, tác giả của nó là một chuyên gia về văn học Anh, nguyên giáo sư tại Trường Đại học Hamburg. Các trích đoạn về Kant, Hegel và Marx được giới thiệu ở đây là ba trong số hàng trăm tiểu phẩm bàn về những chủ đề rộng lớn của lịch sử và văn hoá Phương Tây từ "Các quốc gia đô thị Hi Lạp", "Sáng thế và tội tổ tông" qua "Âm nhạc thời đại trung cổ", "Einstein và thuyết tương đối" cho đến "Phong trào nữ quyền và chủ nghĩa đa văn hoá" từ cuốn sách best-seller gồm 700 trang của tác giả với cái tên đầy khiêu khích: "Văn hoá - Tất cả những gì người ta cần biết".
Nếu có thể mượn cách diễn đạt của Heinrich Heine trong tác phẩm: "Về lịch sử tôn giáo và triết học Đức", tác giả Dietrich Schwanitz có thể nói: "Các nhà triết học lớn Đức nếu tình cờ bắt gặp những trang sách này sẽ nhún vai một cách tao nhã về trình độ hạn chế của tất cả những gì mà tôi viết ra ở đây". Chọn giới thiệu một số trích đoạn từ một tác phẩm khoa học phổ cập nhân dịp kỉ niệm 280 năm ngày sinh của Kant, người dịch mong chuyển tải đến bạn đọc ấn tượng sống động về quan hệ giữa công luận CHLB Đức đương đại và truyền thống tư tưởng cổ điển Đức, đặc biệt về tư thế phê phán độc lập, khả năng tự hài hước và sự thiếu vắng hoàn toàn phẩm chất anh hùng ca ở công luận này. Với tiêu đề "Từ Kant đến Marx", thiết tưởng một chủ đề thảo luận mang tính thời sự - chính trị có thể và cần thiết được gợi mở, ngõ hầu bổ sung thêm cho những suy tưởng thú vị về các điểm tương đồng và dị biệt giữa Khai sáng và Giác ngộ, giữa Phật và Kant, chủ toàn và chủ biệt v.v.
Trương Hồng Quang

Immanuel Kant (1724 - 1804)

Kant là Copernicus của triết học. Ông đảo ngược hướng nhìn và kìa hãy xem, trí tuệ đâu còn xoay quanh thực tại nữa, và trái đất của thế giới kinh nghiệm bắt đầu xoay quanh mặt trời trí tuệ. Hay nói một cách ít thi vị hơn: Kant không còn nhìn vào thực tại rồi đặt câu hỏi làm sao trí tuệ có thể phản ánh nó một cách trung thực nhất. Thay vào đó, ông hướng tới trí tuệ và đặt câu hỏi phải hình dung như thế nào về tri thức tiên nghiệm, tức tri thức có trước mọi thứ kinh nghiệm. Xuất phát từ đây ông đạt tới một cấu trúc hoàn toàn mới của các bình diện logich: Trí tuệ không còn thuộc về thế giới kinh nghiệm mà nó nhận biết, chính trí tuệ đã kiến tạo thế giới thông qua phương thức mà nó hình dung ra thế giới; trí tuệ không phải là một bộ phận của thế giới mà là khởi thủy của nó; trí tuệ không mang tính kinh nghiệm, mà mang tính siêu việt; nó quy định cho thế giới kinh nghiệm phương thức tồn tại của thế giới đó. Những phạm trù mà nó sử dụng để quan sát thế giới - chẳng hạn tính nhân quả - không phải là một phần của thế giới, mà là một phần của ma trận tri thức. Nói cách khác: trí tuệ, cũng như một nhóm sự vật nhất định, chẳng thể thuộc về thế giới, ví dụ loài chó đâu phải là một thành tố hiện hữu; tự thân khái niệm loài chó không phải là một con chó có thực, con chó Bello (xét từ giác độ kinh nghiệm) và loài chó (xét từ giác độ siêu việt) nằm trên hai bình diện logich khác nhau.

Với bước ngoặt kiến tạo luận này, Kant đã trả lời câu hỏi làm sao trí tuệ có thể quy thế giới kinh nghiệm muôn màu muôn vẻ về một mối thống nhất. Trí tuệ không đi tìm tính thống nhất trong thế giới, mà cung cấp cho thế giới tính thống nhất của nó. Ta không thể biết gì về tự thân thế giới, cái mà Kant gọi là "vật tự nó"; tuy nhiên những gì mà ta có thể tri thức được, ta sẽ tri thức chúng một cách tất yếu, và chỉ thông qua sức mạnh tạo nên tính thống nhất của trí tuệ.

Với khái niệm "siêu việt" mà ông dùng như là đối lập của khái niệm "kinh nghiệm", Kant mô tả tất cả những gì không có quan hệ quy chiếu đối với thực tại, mà đối với điều kiện của nhận thức. Triết học của ông chính vì vậy là triết học siêu việt. Nó mang tính phê phán, bởi lẽ nó gắn liền khả năng có thể nhận biết được thế giới với các điều kiện của trí tuệ, và thông qua đó mà cũng giới hạn khả năng nhận biết này. Do vậy mà Kant đã đặt tên cho ba tác phẩm chính của mình là: Phê phán lí tính thuần tuý (trong đó bàn đến các điều kiện của tri thức), Phê phán lí tính thực tiễn (trong đó bàn đến đạo đức) và Phê phán khả năng đánh giá (trong đó bàn đến mĩ học và các mục tiêu tối thượng). Qua đó Kant đã trả lời ba câu hỏi lớn: Ta có thể biết gì? Ta cần phải làm gì? và Ta có thể hi vọng gì?

Đồng thời, công trình "Phê phán" của Kant cũng có thể coi như là sự phê phán trên phương diện tư tưởng hệ đối với trí tuệ của con người: Một khi tôi không biết đến các điều kiện về khả năng hình thành kinh nghiệm của mình, tôi sẽ có thiên hướng phóng chiếu chúng vào thực tại; bởi vì chẳng hạn từ "Gott" (Thượng đế) có âm vang gần giống từ "Brot" (Bánh mì) và cũng được sử dụng tương tự trên phương diện ngữ pháp, tôi sẽ cho rằng Thượng đế cũng là một thực thể hệt như một chiếc bánh mì đen, mặc dù không hề có một kinh nghiệm giác tính nào xác nhận điều này. Thực ra Kant không nói hoàn toàn như vậy, mà là nhà triết học ngôn ngữ Ludwig Wittgenstein, song Kant đã nghĩ đến một điều gì đó tương tự khi ông nói rằng: Không được đánh đồng các ý tưởng điều hành - tức là những chỉ dẫn để sử dụng trí tuệ - với các ý tưởng tạo dựng, bởi nếu không ta sẽ nhầm tưởng những bóng ma là có thực. Và như Wittgenstein sau này, Kant đã nhìn nhận công trình "Phê phán" của ông như là công cụ trị liệu đối với một trí tuệ chưa tự nhân chân ra bản chất siêu việt của mình, và do đó mà chưa tự tách biệt khỏi thế giới do nó kiến tạo nên.

Sau bước ngoặt Copernicus này ở Kant, không còn nhà triết học nào có thể hồn nhiên duy trì trạng thái "tiền phê phán" nữa. Ba tác phẩm "Phê phán" của Kant chứa đựng những những câu hỏi mà triết học của cả trăm năm sau sẽ còn tiếp tục triển khai. Đặc biệt khái niệm "vật tự nó" của ông, cái bất khả tri, toả vẻ hấp dẫn của một câu đố không thể nào tìm được lời giải đáp.

Kant đã làm đảo lộn quan niệm của chúng ta về nhận thức. Ngày nay hầu như chẳng còn một ai tin rằng tinh thần phản ánh thế giới. Trên thực tế mọi lí thuyết đáng tin cậy đều mang tính kiến tạo luận: Chúng ta kiến tạo ra thực tại. Ta chỉ có thể nhận biết được những gì phù hợp với mô hình kiến tạo này, chẳng hạn như thính giác của con người chỉ có khả năng thu nhận được một dải tần số âm thanh nhất định chứ không như loài chó còn có thể nghe được cả các siêu âm. Đồng thời từ sau Kant trở đi người ta có thể hình dung rằng ma trận tri thức tuy mang tính siêu việt, song lại cũng phụ thuộc vào những yếu tố khả biến. Những yếu tố này có thể được quy định bởi các điều kiện lịch sử, xã hội, phái tính, môi trường hay văn hoá, hoặc chúng cũng có thể được định hướng bởi những quyền lợi vô thức. Bất luận thế nào đi nữa thì những yếu tố đó cũng không được chúng ta ý thức đến, bởi chúng có trước mọi thứ kinh nghiệm. Đây là khởi điểm cho một bộ môn thi đấu mang tầm cỡ Olympic, môn thi đấu có nội dung tất cả hãy tình nghi tất cả. Bất cứ một ai cũng có thể phát hiện ở kẻ khác những căn nguyên cho thói thiển cận của người đó: Kẻ nọ là tên tư bản, y không thể suy nghĩ gì khác ngoài các khái niệm hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận; kẻ kia là một khuôn mẫu WASP điển hình (White Anglo-Saxon Protestant) [ [1] ], y không thể nào tư duy khác khác ngoài phạm vi các phạm trù duy lí của nền văn hoá Âu châu và chẳng hề coi việc này có điều gì bất thường. Bằng cách này, người ta có thể phạm tội một cách ngây thơ; con người quả có nhìn nhận thế giới một cách sai lệnh thật nhưng không thể ý thức về điều đó. Hai thế kỉ sau Kant là thời đại của thói đa nghi tư tưởng hệ. Tuy nhiên trước khi thời đại này có thể khởi đầu, Hegel còn phải là phẳng Kant bằng cỗ máy cán lịch sử của mình.

Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831)

Hegel kéo Kant đến bên bờ Jordan [ [2] ] và rửa tội cho ông bằng nguồn nước của lịch sử. Hay diễn đạt một cách khác: Ông thuật lại lịch sử thế giới như là một cuốn tiểu thuyết giáo dục. Sự tương đồng này được ứng dụng lần đầu trong tiểu thuyết: Cũng như Robinson Crusoe đã tái lập một lần nữa toàn bộ lịch sử văn minh trên hòn đảo của mình, từng cá nhân cũng sẽ phải lần lượt nghiệm trải toàn bộ lịch sử văn hoá.

Ở đây Hegel biến bước ngoặt Copernicus của Kant thành nguyên lí của tiến bộ lịch sử. Bước ngoặt này có nội dung gì? Ta hãy ôn lại: Tinh thần lúc khởi thủy chỉ quan sát thế giới và lãng quên chính nó (quan niệm tiền phê phán; chính đề). Tiếp theo đó, nó biến thành Immanuel Kant và xoay hướng nhìn vào bản thân nhằm tìm ra phần đóng góp của mình vào kết quả nhận thức (quan niệm phê phán; phản đề). Và rốt cuộc Kant đột biến thành nhà triết học Hegel với tư cách là người điều hành Tinh thần thế giới và nhận ra rằng mâu thuẫn ở trên chỉ là một bước quá độ nhất thời trong quá trình phát triển và với Hegel sẽ được nâng lên một tầm thống nhất cao hơn (sự thức nhận triết học lịch sử; hợp đề). Ban đầu Tinh thần xuất hiện với tư cách là Vật "tự nó" (Ý thức tiền phê phán), tiếp theo đó ý thức tự phát hiện ra chính mình và Tinh thần xuất hiện dưới hình thái "cho nó" (Tự ý thức, Kant). Và rốt cuộc nó xuất hiện trong sự tổng hợp triết học lịch sử "tự nó và cho nó" (tức chính là Hegel, người tạo ra khái niệm ngày nay đã trở thành thông dụng này).

Sự tổng hợp này có nghĩa rằng cả hai mặt của mâu thuẫn đã được "phủ định" trên ba phương diện: Chúng đồng thời bị bác bỏ, được bảo tồn và nâng lên một cấp độ mới. Nói cách khác: Chúng trở thành những "khoảng khắc" của một tương quan mới; chúng được tương đối hoá, ngữ cảnh hoá, giảm bớt độ căng và qua đó chuyển hoá thành kinh nghiệm. Kết quả tổng hợp này lại trở thành khởi điểm cho một quá trình mới, tương tự như sau một hiệp đấu quyền Anh cả hai địch thủ đều phải rời khỏi sàn đấu và nhà trọng tài giờ đây sẽ phải tham dự vòng đấu tiếp theo với một địch thủ mới.

Hegel gọi nguyên lí này là phép biện chứng và nâng nó lên thành quy luật phát triển của lịch sử thế giới. Sự vận động bao giờ cũng diễn ra từ Ý thức (ngây thơ) qua Tự ý thức (phê phán, Kant) đến Tri thức tuyệt đối (Hegel).

Điều này sẽ được thể hiện cụ thể ra sao dưới hình thức lịch sử?

Ý thức ngây thơ chẳng hạn đánh đồng nội tâm với ngoại giới và phóng chiếu sự giằng xé của mình vào thế giới, phân chia thế giới đó thành cõi thế và cõi bên kia: Đó là ý thức tôn giáo trung cổ. Tiếp theo đó, với tư cách là tự ý thức, nó mang hình thái lịch sử của trào lưu Khai sáng; đấy chính là phản đề duy lí đối với tinh thần tôn giáo trung cổ. Tuy nhiên bước tổng hợp chỉ có thể có được một khi lí trí ban hành các định luật cho mình ngay trong thế giới ngoại lai và tự thực hiện nó: Đây là trường hợp của ý thức đạo đức. Bước tổng hợp, hay hợp đề này lại trở thành một chính đề mới, lúc mà ý thức đạo đức với tư cách là "thói ngông cuồng tự kỉ" muốn cải tạo thế giới chỉ dựa theo cảm xúc. Đó là thời điểm mà Tinh thần thế giới mang tên Rousseau, đội lên đầu chiếc mũ đỏ của phái Jakobin và bắt đầu cuộc cách mạng Pháp.

Hệt như trong một tiểu thuyết giáo dục, Tinh thần thế giới trải qua những nhầm lẫn và ngày càng leo cao hơn trên chiếc thang nhận thức, cho tới thời điểm mà với Hegel nó đạt đến nấc thang tột đỉnh. Đấy chính là trạng thái của sự tự thông suốt tuyệt đối (Tự thức nhận). Ở đây Tinh thần tuyệt đối biến thành kí ức của chính nó. Lịch sử của tính đồng nhất và tính đồng nhất của lịch sử giờ đây ôm chầm lấy nhau trong một tinh thần hoà giải âu yếm.

Với dự thảo này Hegel đã gắn kết lịch sử và triết học dưới hình thức của một cuốn tiểu thuyết. Tiểu thuyết về phiá nó cũng trải qua một cuộc đảo lộn Copernicus à la Kant: Tương tự như cái Tôi siêu việt không còn là một phần của thế giới ngoại hiện nữa mà là khởi thủy của nó, nay cái Tôi trần thuật cũng rút lui khỏi thế giới tiểu thuyết nhằm để mô tả các diễn biến từ cái nhìn của nhân vật. Nhân vật tiểu thuyết thông qua việc nếm trải hàng loạt các biến cố khủng hoảng ngày sẽ càng mở rộng tầm nhìn của mình và rốt cuộc có được cái nhìn thấu thị về kinh lịch của bản thân và đạt tới mức hiểu biết của cái Tôi trần thuật. Tương tự như vậy, Hegel điều chỉnh góc trần thuật của mình sao cho phù hợp với tầm nhìn của từng thời đại một, xác định sự dị biệt giữa "Tinh thần thời đại", đầy hạn chế và những gì mà nó không thể bao quát nổi như một mâu thuẫn biện chứng, dẫn dắt Tinh thần thế giới trải qua một loạt những cuộc khủng hoảng biện chứng để đi đến sự thức nhận về lịch sử của nó, cho tới khi mà nó có thể đạt tới tầm hiểu biết vạn năng của chính Hegel.

Qua đó, Hegel biến con người thành các nhân vật tiểu thuyết. Con người giờ đây sắm một vai trò nhất định trong lịch sử thế giới và có thể tự thực hiện mình với tư cách là kẻ đỡ đầu của Tinh thần. Tuy nhiên cũng thật khốn nạn cho cho ai đó dám cưỡng lại sứ mạng của lịch sử: y sẽ bị bánh xe của nó nghiền nát không thương tiếc.

Với Hegel một tấn kịch mới đã được mở màn trong đời sống tư tưởng châu Âu, lịch sử từ nay về sau sẽ trở thành một mô hình hiện thực mang tính khuynh loát. Cuộc chạy đua dành quyền bình luận về lịch sử bắt đầu từ đây. Ai có được quyền uy bình luận lịch sử, kẻ đó sẽ là người chiến thắng, bởi lẽ qua đó y sẽ được trao sứ mệnh dành chính quyền và thúc đẩy lịch sử tiến lên theo tinh thần của mình. Quyền bình luận lịch sử ở một quy mô tối cao còn được gọi là hệ tư tưởng (khái niệm này lúc đầu nhằm chỉ một hệ ý thức hệ sai trái xuất phát từ những quyền lợi vô thức). Với Hegel thời đại của các hệ tư tưởng được biện giải trên phương diện lịch sử đã được khởi đầu.

Triết học Hegel đặc biệt phổ biến ở Đức và Nga, nơi mà trí thức hầu như không thu thập được những kinh nghiệm chính trị thực tiễn nào. Và bởi vì đánh đồng thực tại với tiểu thuyết, họ đã biến thành những kẻ Đông Kisốt. Đấy là lí do vì sao mà - so với các nước Tây Âu khác - ở nước Đức thế kỉ 19 hầu như chẳng xuất hiện một tác phẩm tiểu thuyết lớn nào. Người Đức đã có hẳn một pho tiểu thuyết của lịch sử. Tiểu thuyết gia lớn nhất là Hegel, và độc giả say sưa nhất của ông là Karl Marx.

Karl Marx (1818-1883)


 Hegel có cả một đàn con, người thì thừa kế gia sản, kẻ lại đào mồ chôn cha mình. Karl Marx làm cả hai việc. Ông tiếp nhận toàn bộ mô hình của Hegel cùng với biện chứng pháp như là động cơ của lịch sử, nhưng "đặt ngược nó từ đầu xuống chân" như ông nói. Thực tại đối với Marx không phải tinh thần, mà là vật chất. Điều quyết định đối với một nền văn hoá là hình thái mà trong đó một xã hội bảo đảm cho sự sinh tồn vật chất của mình, có nghĩa là cơ cấu kinh tế của nó. Ở giai đoạn phong kiến mang đặc trưng nông nghiệp giới quý tộc giữ vai trò thống trị, trong chế độ tư bản được quy định bởi nền sản xuất công nghiệp giai cấp tư sản lại nắm giữ vai trò này. Mâu thuẫn biện chứng ở đây không phải là mâu thẫn giữa ý thức và tự ý thức, mà là giữa điều kiện sản xuất và quyền sử dụng bất bình đẳng đối với tư liệu sản xuất, giữa lao động và quan hệ sở hữu. Mâu thuẫn này dẫn tới sự phân chia con người thành các giai cấp khác nhau, và như vậy động lực của lịch sử chính là đấu tranh giai cấp. Tuy nhiên ở đây Marx đã quay trở lại lối lập luận của Hegel khi ông cho rằng có một mâu thuẫn tồn tại giữa ý thức tự phát và tự ý thức của một giai cấp. Tự ý thức đó được Marx gọi là ý thức giai cấp. Nó chính là bao tử cung mà trong đó ý chí cách mạng dần dần chín muồi. Xuất phát từ những tiền đề này, quá trình lịch sử hấp dẫn nhất đối với Marx chính là tấn kịch của cuộc Cách mạng Pháp. Nảy sinh từ các mâu thuẫn của xã hội phong kiến, cuộc cách mạng này trở thành hình mẫu cho một viễn cảnh tương lai sẽ đến khi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đẩy các xung đột giai cấp lên tới đỉnh điểm. Đó là thời điểm mà đám đông vô sản bị bần cùng hoá đối mặt với một thiểu số các nhà tư bản thông qua việc bóc lột công nhân đã giành về tay mình toàn bộ quyền chiếm hữu tư liệu sản xuất. Sở dĩ phải gọi là bóc lột bởi vì nhà tư bản không trao lại cho người công nhân một giá trị tương ứng với thành quả lao động của người đó, mà chỉ trả một phần đảm bảo sinh hoạt tối thiểu và giữ lại cho mình phần lợi nhuận, hay còn gọi là giá trị thặng dư. Giai cấp tư sản có thể làm điều này một cách dễ dàng thông qua việc khuếch trương những tư tưởng lừa mị về cái gọi là "các quy luật khách quan của thị trường". Và bởi vì đồng tiền làm lẫn lộn ý thức về giá trị, giá cả hàng hoá hiện lên như là giá trị khách quan của nó. Trong thực tế nó chỉ là chiếc lá nho phủ lên các quan hệ sở hữu bất công. Nhiệm vụ đầu tiên của một nhà Mác-xit do vậy là phải đập tan các ảo giác tư tưởng hệ. Người ta có thể nhận dạng hệ tư tưởng căn cứ vào phương thức nhà tư bản rao bán các quyền lợi của giai cấp tư bản như là quyền lợi của toàn xã hội. Qua đó toàn bộ nền văn hoá tư sản đều trở nên đáng ngờ vực. Và như vậy chủ nghĩa Marx trở thành một thứ trường học cao cấp của nghệ thuật lột mặt nạ. Các hệ thống biểu tượng văn minh được vạch trần. Công việc này đã làm xuất hiện biết bao thế hệ của các nhà thám tử coi việc lột mặt nạ của Thượng đế và thế giới và chỉ mặt đặt tên những kẻ bóc lột trá hình là sự nghiệp chính của cuộc đời mình. Thái độ đa nghi tư tưởng hệ mang tính phổ quát cung cấp cho chủ nghĩa Mác cả một hệ thống miễn dịch, bởi bất cứ mỗi một địch thủ nào đều có thể được nó biến thành một trường hợp ứng dụng cho lí thuyết: Ai chống đối, đó là một kẻ thù giai cấp hoặc ít nhất là một kẻ bị mơ hồ về lập trường.


Chú thích


[1]Tiếng Anh trong nguyên bản: Người da trắng, gốc Ănglô-Xắc xông và theo Đạo Tin lành
[2]Tên một dòng sông chảy qua Israel và Jordani, trong Kinh Thánh là biểu tượng cho nơi khởi đầu của Miền đất hứa


Nguồn: Dietrich Schwanitz, Bildung - Alles, was man wissen muß, Wilhelm Goldmann Verlag, München 2002, S. 430 - 436
 http://www.vanhoanghean.com.vn

13 tháng 6, 2011

TẠI SAO NHIỆT ĐỚI LẠI BUỒN ?

 Nhị Linh

“Nhiệt đới buồn” (Claude Lévi-Strauss, Ngô Bình Lâm dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính, NXB Tri Thức, 2009), nếu coi là một hồi ký, thì nó đúng là một hồi ký rất dở và rất gở: chẳng có cuốn hồi ký nào lại được viết ra để rồi tác giả mãi hơn nửa thế kỷ sau mới qua đời. Nếu coi là một cuốn tiểu thuyết, thì tác phẩm in lần đầu năm 1955 này (về phần mình, tác giả mới mất cách đây vài tháng) vẫn quá cỡ kể cả so với một trường giang tiểu thuyết; nó có quá nhiều câu chuyện, quá nhiều cảm giác, và quá nhiều miêu tả tinh tế, tới mức người ta đâm ra ngờ vực ngay chính bản thân khái niệm tiểu thuyết, và Viện Hàn lâm Goncourt năm ấy đã có lý khi ngậm ngùi mà thôi không trao giải cho cuốn sách. Còn nếu coi “Nhiệt đới buồn” là một chuyên khảo khoa học, thì biết lý giải sao đây sự xuất hiện của câu mở đầu: “Tôi ghét du hành và các nhà thám hiểm” và hình ảnh kết thúc: “một con mèo”?

Hẳn ý thức được tính chất “không thể xếp hạng” tuyệt đối của của cuốn sách này, nên mặc dù nó được đọc rất nhiều trong hơn năm chục năm qua bởi vô số người thuộc đủ mọi giới, bài báo chính của chuyên đề Claude Lévi-Strauss của “Magazine Littéraire” (tháng Năm 2008) đã tìm cách né tránh vấn đề bằng cách đặt tít “Cuộc phiêu lưu vĩ đại của trí tuệ” và chú trọng miêu tả một nhà khoa học khi tuổi trẻ thực sự không biết phải làm gì với cuộc đời mình. Khi là một cuộc phiêu lưu, thì tập tục hôn nhân ở các xã hội “nguyên thủy”, đời sống trí thức Paris, các dải núi non Nam Mỹ, tất tật đều có thể là những điều bất ngờ vĩnh viễn, làm người ta quên đi, hay lờ đi, những câu hỏi gây bực mình về thể loại hay là gì gì nữa.

Nhưng dù có thế nào, thì vẫn còn một câu hỏi không thể bỏ qua: tại sao nhiệt đới lại buồn? Tại sao lại đem quết một vệt màu lạnh lên một thực thể nếu không phải là nóng bỏng thì cũng là luôn luôn có nguy cơ nồng cháy? Hóa ra là những tươi vui nhiệt tình và sắc màu rộn ràng của lễ hội Rio de Janeiro (thì chính nó đấy, đối tượng quan trọng của “Nhiệt đới buồn”) không thể đại diện cho một hình ảnh về “xứ nhiệt đới”?

Và cái “buồn” của “Nhiệt đới buồn” cũng đặc thù ghê gớm, khiến cho bản dịch tiếng Anh vẫn giữ nguyên nhan đề của nguyên bản tiếng Pháp, “Tristes Tropiques”.

Nếu muốn đẩy suy nghĩ đi đến chỗ tận cùng (đó cũng là điều mà “phiêu lưu” gợi ý cho chúng ta), có lẽ ta nên hiểu Lévi-Strauss phản ứng mạnh mẽ với du ký Tây phương đến thế nào, tới mức cho là kỳ khôi cái chuyện đồng bào của ông cứ mải miết đi tìm kỳ hoa dị thảo độc đáo của Đông phương; và cũng vậy, không thể bỏ qua cái sự buồn cứ vương lại như một nốt ruồi khó ưa trên bìa cuốn sách.

Nhiều người đã tìm cách giải thích, trong đó có một người Đông phương, thuộc về một đất nước không hẳn nhiệt đới nhưng cũng trong một thế giới “khác” so với Tây phương: với nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, cái thành phố Istanbul nằm trên vĩ tuyến 41 của ông gợi lên “nỗi buồn” ở người quan sát Tây phương (cụ thể là Lévi-Strauss) là bởi vì trong cái nhìn của họ trước những hoang phế của nơi đây có lẩn quất một mặc cảm tội lỗi, khiến họ cứ ra sức mà tô vẽ, mà phết sơn lòe loẹt lên cảnh tượng xa lạ mà họ đang chứng kiến.

Trong cuốn “Istanbul” (cũng một hồi ký và cũng đồng thời là khảo cứu, cũng đồng thời là tiểu thuyết thành ra chẳng thuộc về cái gì hết), Pamuk (cũng một người có thiên hướng nghệ thuật và cũng không biết làm gì với cuộc đời mình khi trẻ tuổi) phân biệt nỗi buồn tự bên trong con người Istanbul với nỗi buồn xuất hiện trong cái nhìn của người ngoài. Cũng tương tự như vậy, lẽ dĩ nhiên “Nhiệt đới buồn” có thể hiểu trực nghĩa rằng có những điều buồn bã của nhiệt đới mà nếu nhạy cảm người ta có thể cảm nhận, nhưng quan trọng hơn cả, và ở đây có một sự chuyển dịch hao hao với phép hoán dụ, “Nhiệt đới buồn” còn có nghĩa nỗi buồn nằm trong chính bản thân Lévi-Strauss, người từ xa tới. Điều này được thể hiện một cách chu đáo ở các phần hai và phần ba, nhất là khi nhà nhân chủng học nhận ra tuyệt đại đa số cảnh hoang sơ Nam Mỹ không có lý do từ tính chất nguyên thủy, mà do bị tàn phá, và khi ông ngao ngán với cái nỗi niềm suy nghĩ kỳ khôi của đám trí thức thuộc địa chỉ chăm chăm kiếm lấy mảnh bằng mà chẳng mảy may quan tâm tới khoa học hay tới nhiệt đới của họ.

Vì quá sáng suốt, Lévi-Strauss không sao tự bó hẹp tác phẩm của mình vào một khuôn khổ nào, và cũng chính vì lẽ ấy, ông không thể không nhìn thấy sự buồn của miền nhiệt đới vui.

Theo: http://nhilinhblog.blogspot.com